Tiếng Anh
Montreal 09:46pm, Mon 1 Sep 2014 Trở về trang chủ


 Tìm kiếm

TỈNH BANG VÀ LÃNH THỔ TỰ TRỊ
Alberta
(Edmonton)
British Columbia
(Victoria)
Manitoba
(Winnipeg)
New Brunswick
(Fredericton)
Newfoundland and Labrador
(St. John's)
Northwest Territories
(Yellowknife)
Nova Scotia
(Halifax)
Nunavut
(Iqaluit)
Ontario
(Toronto)
Prince Edward Island
(Charlottetown)
Québec
(Québec City)
Saskatchewan
(Regina)
Yukon
(Whitehorse)
   

Đầu trangAlberta
Thủ phủ Edmonton
Thành phố lớn nhất Calgary
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Diện tích 661,848 km2
Dân số (2007) 3,473,984 – xếp thứ 4
GDP C$69,789 – xếp thứ 3
 

Alberta trở thành tỉnh bang từ ngày1-9-1905 và là một trong các tỉnh bang nằm trong vùng thảo nguyên của Canada. Alberta ở phía tây Canada, được giới hạn bởi các tỉnh của British Columbia về phía tây, Saskatchewan về phía đông, Northwest Territories về phía bắc, và bang Montana của Mỹ về phía Nam.

Thủ đô của Alberta là Edmonton, ở ngay phía nam của tỉnh. Calgary là một đầu mối giao thông chủ yếu cũng như là trung tâm thương mại của Canada. Edmonton là nơi cung cấp dầu cho Canada và các ngành công nghiệp phía bắc. Theo đánh giá về dân số gần đây, hai vùng thủ đô này có dân số gần tương đương nhau, Calgary đông dân hơn Edmonton một chút.

        Nền kinh tế của Alberta là một trong những nền kinh tế mạnh nhất của Canada, do có nền công nghiệp dầu mỏ cũng như ngành nông nghiệp và công nghệ phát triển. GDP năm 2006 đạt mức cao nhất trong các tỉnh của Canada với 69,789$ Canada . Cao hơn bình quân cả nước 56% và cao gấp đôi so với một số tỉnh của vùng Atlantic.


Đầu trangBritish Columbia

Thủ phủ Victoria
Thành phố lớn nhất Vancouver
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Diện tích 944,735 km2
Dân số (2007) 4,380,256 – Xếp thứ 3
GDP C$41,689 – xếp thứ 7

British Columbia là tỉnh bang nằm ở cực Tây của Canada, nổi tiếng bởi vẻ đẹp hoang sơ, và các câu thành ngữ xứ Latin. Đây là tỉnh thành thứ 6 gia nhập liên bang Canadian và cư dân được coi là người Anh Columbia.

Thủ đô British Columbia là Victoria, thành phố lớn thứ 15 trong vùng của Canada. Thành phố lớn nhất là Vancouver cũng là thành phố lớn thứ ba trong các thành phố của Canada.

        Nền kinh tế British Columbia gắn liền với nền công nghiệp khoáng sản.Tuy nhiên việc làm ngày càng giảm, tỉ lệ thất nghiệp lại cao hơn 30 năm qua 4,5%. Các nghề mới chủ yếu ở lĩnh vực kiến trúc và bán lẻ, dịch vụ. Gần đây vùng Vancouver đứng thứ 3 về sản xuất phim khu vực bắc Mỹ, chỉ sau Los Angeles và New York.


 


Đầu trangManitoba
Thủ phủ Winnipeg
Thành phố lớn nhất Winnipeg
Ngôn ngữ Anh, Pháp
Diện tích 647,797 km2
Dân số (2007) 1,186,679 – xếp thứ 5
GDP C$38,001 – xếp thứ 8

 

Manitoba là 1 trong 10 tỉnh bang của Canada  được công nhận bởi chính phủ liên bang năm 1870 sau khi tách ra khỏi lãnh thổ phía Bắc và cũng là tỉnh thành đầu tiên của lãnh thổ này. Manitoba nằm ở cực bắc của 3 vùng tỉnh thành có thảo nguyên. Từ "Manitoba" có nguồn gốc từ từ "manitou" có nghĩa là tinh thần.

Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Manitoba (chứa hơn ½ dân số các tỉnh thành) là Winnipeg, với dân số hơn 600,000.
Các thành phố khác với hơn 10,000 dân là Brandon, Thompson, Portage la Prairie, và Steinbach. 



Đầu trangSaskatchewan
Thủ đô Regina
Thành phố lớn nhất Saskatoon
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Diện tích 651,900 km2
Dân số (2007) 996,869 – xếp thứ 6
GDP C$45,718 – xếp thứ 5
Saskatchewan là một tỉnh thành thuộc vùng thảo nguyên của Canada với dân số chưa tới 1 triệu. Trong đó, 202,340 người sống ở thành phố lớn nhất là Saskatoon, trong khi 179,246 cư dân khác sống ở thủ đô là Regina. Ngoài ra còn các thành phố khác theo thứ tự về diện tích là Prince Albert, Moose Jaw, Yorkton, Swift Current, và North Battleford. Tên các tỉnh thành được đặt theo tên các dòng sông của Saskatchewan River, những tên này đặt theo tước hiệu của người Cree: kisiskāciwani-sīpiy, có nghĩa "dòng sông chảy siết ".

        Nền kinh tế của Saskatchewan gắn liền với nông nghiệp; tuy nhiên các nhành lâm nghiệp, thủy sản, săn bắn cũng đem lại 6.8% GDP của vùng. Saskatchewan sản xuất 45% ngũ cốc của Canada. Bột mì là loại phổ biến nhất và có lẽ là loại hợp với vùng nhất, nhưng các loại ngũ cốc khác như bông, lanh, lúa mạch, yến mạch, đậu, đậu lăng cũng được trồng rất rộng rãi. Nông trại bò trong vùng chỉ thua kém vùng Alberta. Khoáng sản cũng là một nền công nghiệp quan trọng trong vùng, Saskatchewan đứng đầu thế giới về xuất khẩu Kali cacbonat
        Nơi đây cũng rất giàu các khoáng sản tự nhiên. Dầu và khí đốt tự nhiên cũng góp phần quan trọng trong nền kinh tế của Saskatchewan. Sản phẩm dầu và khí đốt tự nhiên chỉ thua vùng Alberta. Nguyên liệu thô nặng được lấy từ vùng Lloydminster-Kerrobert-Kindersley. Vùng Kindersley-Swift Current cũng như Weyburn-Estevan fields cũng rất giàu các nguyên liệu thô nhẹ. Khí gas tự nhiên được tìm thấy ở phía tây Saskatchewan từ vùng hồ Primrose qua Lloydminster, Unity, Kindersley, Leader, và quanh vùng Maple Creek.

        Saskatchewan còn là nguồn cung cấp uranium lớn nhất thế giới. Nền công nghiệp uranium có quan hệ mật thiết với chính quyền khu vực, cho phép chính quyền Saskatchewan đặc quyền định giá uranium toàn thế giới.


Đầu trangOntario
Thủ đô Toronto
Thành phố lớn nhất Toronto
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Area 1,076,395 km2
Dân số (2007) 12,803,861 – xếp thứ 1
GDP C$43,847 – xếp thứ 6

 

Ontario là một tỉnh thành ở phía đông trung tâm Canada, thành phố đông dân nhất và rộng thứ hai chỉ sau Quebec, (Nunavut và lãnh thổ Tây Nam là rộng nhất nhưng không phải tỉnh thành ). Ontario trải dài tới ranh giới các tỉnh thành Manitoba về phía Tây, Quebec về phía Đông, bang Michigan, New York, Ohio, Pennsylvania, và Minnesota. Hầu hết ranh giới của Ontario liền với Mỹ bắt đầu từ hồ Woods và kéo dài qua 4 hồ lớn khác Lakes: Superior, Huron (bao gồm vịnh Georgian, Erie, và Ontario ( tên hồ này được đặt cho thành phố ) kéo dài theo sông Saint Lawrence gàn Cornwall. Ontario là tỉnh thành duy nhất của Canadian tiếp giáp với các biển hồ.

        Thủ đô của Ontario là Toronto, thành phố lớn nhất của Canada. Ottawa, thủ đô của Canada, cũng đặt tại Ontario. Năm 2006 có 12,160,282 dân tại Ontario, chiếm 38.5% dân số . Thành phố lấy tên từ hồ Ontario, đã từng được cho rằng bắt nguồn từ Ontario, theo ngôn ngữ Huron có nghĩa là "hồ lớn”, hoặc cũng có thể là skanadario nghĩa là "nước đẹp" trong tiếng Iroquoian. Cùng với New Brunswick, Nova Scotia và Quebec, Ontario là một trong bốn thành thị ban đầu của Canada khi đất nước được thành lập vào 1-7-1867 bởi người Anh Bắc Mỹ
Ontario là thành thị đứng đầu của Canada về sản xuất đóng góp 52% tổng gía trị hang hóa cả nước năm 2004. Những con sông của Ontario bao gồm 1 phần chung với sông Niagara là nguồn thủy điện to lớn.
        Toronto, thủ đô của Ontario, là trung tâm về dịch vụ tài chính, ngân hàng của Canada. Những thành phố lân cận trong vùng Greater Toronto như Brampton, Mississauga và Vaughan là những trung tâm phân phối sản phẩm, cùng với việc sở hữu các khu công nghiệp sản xuất khác.

        Nhân tố công nghệ thông tin cũng khá quan trọng đặc biệt là Markham, Waterloo và Ottawa. Hamilton là thành phố sản xuất thép lớn nhất của Canada và Sarnia là trung tâm của sản xuất hóa dầu . Ngành xây dựng chiếm ít nhất 7% lực lượng lao động, nhưng vì còn những công nhân không có giấy tờ, con số này có thể lên đến 10%. Nhân tố này bắt nguồn việc gia tăng xây dựng nhà mới cùng nhà do nhà nước quản lí với thế chấp thấp và vật giá leo thang, đặc biệt là vùng Greater Toronto. Khoáng sản và lâm sản như bột giấy, giấy là thiết yếu cho nền kinh tế của miền Bắc Ontario. Hơn tất cả các vùng khác, du lịch đóng góp một phần quan trọng đối với kinh tế của trung tâm Ontario, đỉnh điểm là các tháng hè . Thành phố sở hữu nguồn nước thiên nhiên phong phú và thiên nhiên hoang dã liền kề với các khu đô thị khác. Vào các thời điểm khác trong năm, săn bắn, trượt tuyết, cũng là mùa cao điểm. Du lịch cũng đóng vai trò quan trọng với các địa điểm du lịch như các sòng bài lớn ở các thành phố lớn lân cận như Windsor, Ram và thác Niagara nơi thu hút nhiều khách du lịch đến từ Mỹ.

Đầu trangQuébec

Thủ đô Quebec City
Thành phố lớn nhất Montreal
Ngôn ngữ Tiếng Pháp
Area 1,542,056 km2
Dân số (2007) 7,700,807 – xếp thứ 2
GDP C$37,278 – xếp thứ 10

        Québec là một tỉnh thành của Canada, và là nơi duy nhất được coi là một nước trong lãnh thổ Canada. Quebec giới hạn bởi Ontario về phía tây, Vịnh James và Hudson, về phía Bắc bởi vịnh Hudson Strait và Ungava, về phía đông bởi Gulf của Saint Lawrence và Labrador, về phía đông nam bởi New-Brunswick và Maine, và về phía Nam bởi bang New York, Vermont, và New Hampshire. Nó đồng thời chung hải phận với lãnh hải Nunavut và các thành phố của Đảo Prince Edward Island và Nova Scotia.

Quebec là thành phố rộng nhất Canada, đứng thứ 2 về phân cấp hành chính; chỉ có lãnh thổ của Nunavut là lớn hơn. Đây là thành phố nổi tiếng thứ 2 chỉ sau Ontario, chủ yếu dân cư ở đây sống dọc bờ sông Saint Lawrence. Vùng trung tâm và phía bắc được biết đến bởi sự định cư của những người thổ dân của Canada. Quebec có dịch vụ dân sự rộng nhất của vùng bắc Mỹ. Ngôn ngữ giao tiếp là tiếng Pháp, đây cũng là vùng mà đa số dân cư trong vùng là người gốc Pháp. Đây cũng là nơi mà tiếng Anh không phải ngôn ngữ chính trừ văn bản luật pháp và tòa án nơi mà dùng song song 2 ngôn ngữ. Quebec có một phong trào chủ nghĩa dân tộc với các cuộc trưng cầu dân ý về quyền độc lập vào năm 1980 và 1995. Trong khi nguồn tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò trọng yếu của nên kinh tế, Quebec đã phải thích nghi với các yếu tố để phù hợp với những yếu tố kinh tế khác như công nghệ thông tin và truyền thông, vũ trụ, sinh học và sức khỏe.

        Thung lũng sông St. Lawrence là vùng nông nghiệp trù phú sản xuất nông sản như sữa, hoa quả, rau, siro (Quebec là nơi sản xuất đứng đầu thế giới), và vật nuôi. Phía Bắc của thung lũng sông St. Lawrence , Phần lãnh thổ của Quebec đặc biệt giàu về lâm sản, với hồ, rừng, sông. Công nghiệp giấy, lâm nghiệp, thủy điện vẫn là những nghành công nghiệp quan trọng của tỉnh. Công nghiệp công nghệ cao rất quan trọng quanh vùng Montreal. Nó bao gồm các công ty về vũ trụ như nhà sản xuất tàu vũ trụ Bombardier, công ty về động cơ phản lực như Pratt & Whitney, nhà sản xuất máy bay không người lái CAE và nhà thầu Lockheed Martin, Canada. Những công ty này và các nhà thầu phụ khác làm Quebec đứng vị trí thứ 4 trong công nghiệp hàng không. Trong công nghiệp trò chơi điện tử, những tên tuổi lớn như Electronic Arts và Ubisoft đều có văn phòng tại Montreal.


Quebec là vùng nói tiếng Pháp lớn nhất tại Châu Mỹ. Hầu hết những người Canada gốc Pháp đều sống ở Quebec, mặc dù cũng có những nơi tập trung nhiều người nói tiếng Pháp trong lãnh thổ với nhiều mức độ khác nhau liền với Quebec. Montreal là thể giới văn hóa của Quebec.


 

 


Đầu trangNova Scotia

Thủ đô Halifax
Thành phố lớn nhất Halifax
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Area 55,283 km2
Dân số (2007) 934,782 – xếp thứ 7
GDP C$34,210 – xếp thứ 11

 

Nova Scotia là 1 vùng nằm bên bờ biển của Canada về phía Đông Nam. Đây là vùng nổi tiếng nhất của trong các vùng biển với thủ đô là Halifax. Đây cũng là khu công nghiệp chính trong vùng. Nova Scotia là thành thị nhỏ thứ 2 của Canada.

Nền kinh tế của Nova Scotia chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên truyền thống nhưng những thập kỉ gần đây nguồn tài nguyên đa dạng hơn. Những ngành công nghiệp như đánh cá, khoáng sản, lâm nghiệp và nông nghiệp đóng vai trò quan trọng. Gần đây là các ngành công nhiệp như du lịch công nghệ, sản xuất phim, âm nhạc và dịch vụ tài chính.

Thành thị bao gồm các vùng của các quốc gia Mi'kmaq, Mi'gma'gi, bao gồm hải phận cũng như nhiều phần của Maine, Gaspé, và Newfoundland. Nova Scotia từ lâu đã là nhà của người Mi'kmaq khi những thực dân châu Âu đặt chân đến đây. Năm 1604, thực dân Pháp bắt đàu làn sóng định cư từ châu Âu từ phía bắc Florida tại Cảng Hoàng gia, được biết đến là Acadia. Đế chế Anh đã quản lí vùng từ năm 1713 đến 1760, và thành lập thủ đô mới tại Halifax năm 1749. Năm 1867, Nova Scotia đã là 1 trong những tỉnh thành của liên bang Canada cùng với New Brunswick, và tỉnh thành của Canada (nơi đã trở thành tỉnh thành riêng biệt của Quebec và Ontario).

Khoáng sản cũng là một nhân tố nổi bật, đặc biệt là thạch cao, muối, barrit. Từ năm 1991, dầu khí và gas đã trở nên quan trọng hơn đối với nền kinh tế. Nông nghiệp duy trì 1 vai trò quan trọng trong vùng. Đối với vùng trung tâm của Nova Scotia có rất nhiều lao động làm nghề gỗ và giấy. 

 



Đầu trangNew Brunswick
Thủ đô Fredericton
Thành phố lớn nhất Saint John
Ngôn ngữ Anh, Pháp
Area 72,908 km2
Dân số (2007) 749,782 – xếp thứ 7
GDP C$33,664 – xếp thứ 11

 

Nouveau-Brunswick là một trong 3 tỉnh bang có cảng biển của Canada, và là tỉnh duy nhất sử dụng hai ngôn ngữ chính thức( tiếng Anh và tiếng Pháp) trong liên bang. Thủ phủ của tỉnh là Fredericton. Theo số liệu của Ủy ban tài chính của Newbrunswick, dân số của tỉnh trong năm 2006 ước đoán khoảng 729,997 người , phần lớn dân số nói tiếng Anh và 35% còn lại sử dụng tiếng Pháp.

Tên gọi của Tỉnh được dịch ra từ tiếng Anh cổ là Braunschweig; một thành phố ở phía Bắc nước Đức, quê hương của Vua George III của vương quốc Anh.
Vùng thành thị của New Brunswick có nền kinh tế dựa trên ngành dịch vụ chiếm ưu thế với các nghành Y tế, giáo dục, buôn bán, bảo hiểm và tài chính. Những ngành nghề này được phân chia một cách hợp lý và cân bằng giữa ba vùng thành thị chính ở đây. Ngoài ra, Saint John có các điều kiện phát triển công nghiệp nặng và cảng biển, Fredericton chiếm ưu thế bởi các dịch vụ công cộng, các trường đại học và quân sự, trung tâm phân phối, giao thông, buôn bán và thương mại được phát triển ở Moncton.

        Về kinh tế nông nghiệp nổi bật nhất là lâm nghiệp, khai thác mỏ và nông thủy sản. Lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tất cả các vùng của tỉnh, nhưng đặc biệt ở các vùng trồng cây lấy gỗ dành cho công nghiệp nặng. Trong các khu đô thị nhỏ như Saint John, Miramichi, Nackawic và Edmundston có rất nhiều nhà máy cưa cũng như một vài nhà máy giấy và nghiền gỗ khác.
        Các kim loại nặng như chì và kẽm được khai thác ở phía Bắc quanh vùng Bathurst. Một trong những quặng Kali cacbonatcó trữ lượng lớn nhất thế giới là ở Sussex, trong đó một mỏ Kali cacbonat có trị giá một tỉ đô la đã và đang được khai thác ở vùng này.

Nông nghiệp được tập trung phát triển ở vùng thung lũng sông Saint John( ở phía Tây Bắc biên giới của Tỉnh), nơi khoai tây là là nông sản có giá trị kinh tế lớn nhất. Các trang trại sản xuất bơ sữa và tổng hợp dễ dàng tìm thấy ở các nơi khác nhưng đặc biệt ở vùng Đông nam, tập trung ở các vùng thung lũng sông Kennebecasis và Petitcodiac. Vùng đánh bắt cá có giá trị nhất là ở Lobster, Scallops and Atlantic King Crab. Các khu trang trại cá hồi đại tây dương ở vùng vịnh Passamaquoddy cũng có vai trò rất quan trọng trong nền công nghiệp địa phương.

        Du lịch cũng là một nguồn thu quan trọng, đặc biệt là ở vùng Passamaquoddy( nơi có khu nghỉ dưỡng St. Andrews) và ở phía đông nam của tỉnh, trung tâm của Moncton và Shediac.

        Những chủ sử dụng lao động lớn nhất của tỉnh là tập đoàn Irving, một vài công ty trồng rừng đa quốc gia, chính quyền của New Brunwick và tập đoàn McCain.



Đầu trangPrince Edward Island
Thủ đô Charlottetown
Thành phố lớn nhất Charlottetown
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Area 5,683km2
Dân số (2007) 138,627 – xếp thứ 10
GDP C$31,278 – xếp thứ 13

 

Prince Edward Island là một tỉnh bang của Canada nằm trên một hòn đảo có cùng tên gọi. Đây là tỉnh giáp biển có diện tích nhỏ nhất cũng như dân số thấp nhất ( không kể đến các vùng tự trị). Prince Edward Island có 138,627 dân. Tên gọi của đảo trùng với tên của Hoàng tử Edward Augustus, Công tước Ken( 1767-1820), cha của Nữ hoàng Victoria.

Kinh tế của tỉnh chiếm ưu thế bởi các ngành công nghiệp mang tính thời vụ như nông nghiệp, du lịch, và đánh bắt cá. Ngành sản xuất và công nghiệp nặng của tỉnh còn nhiều hạn chế.
       Tương tự như trong thời kỳ thuộc địa, nông nghiệp vẫn chiếm ưu tế trong nền kinh tế tỉnh. Trong suốt thế kỷ 20, khoai tây được chọn làm cây trồng chủ đạo, mang lại một phần ba nguồn thu chính của tỉnh.Trong thời gian gần đây, sản lượng khoai tây của tỉnh đứng thứ ba ở Canada, với sản lượng hàng năm là 1300 triệu kg. Tương đương với sản lượng của bang Ohio khoảng 6200 triệu kg một năm với số dân cao hơn gấp 9,5 lần so với PEI. PEI là nơi sản xuất hạt giống khoai tây chính và hiện đang được xuất khẩu đi hơn 20 nước trên thế giới.

        Nhiều cộng đồng các tỉnh duyên hải dựa vào việc thu hoạch động vật có vỏ, đặc biệt là đánh bắt tôm hùm cũng như việc đánh bắt hàu và nuôi trai.
        Cây cầu Confederation kết nối PEI và New Brunswick. Cây cầu được mở cửa vào ngày 01 tháng 6, năm 1997, kết nối Borden-Carleton và Cape Jourimain và thay thế Bến phà Marine Atlantic. Kể từ đó, cây cầu Confederation đảm bảo giao thông đi lai, góp phần thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh và kinh tế dựa trên việc xuất khẩu cá, nông sản.

Đầu trangNewfoundland and Labrador

Thủ đô St. John's
Thành phố lớn nhất St. John's
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Area 5,683 km2
Dân số (2007) 506,275 – xếp thứ 9
GDP C$47,520 – xếp thứ 4

 

Newfoundland And Labrador là một tỉnh bang thứ 10 gia nhập vào Canada. Về mặt địa lý, tỉnh bang bao gồm đảo Newfoundland và vùng đất liền Labrador, nằm ở bờ biển Đại tây dương Canada. Được tiếp nhận vào Canada năm 1949, toàn tỉnh được biết với tên là Newfoundland, nhưng đến năm 1964, chính quyền tỉnh đã tự thay đổi thành Chính quyền Newfoundland and Labrador. Vào ngày 6 tháng 12 năm 2001, một sửa đổi trong Hiến pháp Canada đã thay đổi tên chính thức của tỉnh thành “ Newfoundland and Labrador”. Nhưng trong giao tiếp hàng ngày, người Canada vẫn thường gọi chung tên tỉnh là Newfoundland, trong khi ở những vùng ở Labrador tên của tỉnh được gọi đơn giản dưới cái tên Labrador.

        Trong khi tên gọi của Newfoundland có nguồn gôc từ 3 từ tiếng Anh là New Found Land, thì Labrador lại có nguồn gốc từ một tước hiệu của người Bồ Đào Nha có nghĩa là “ địa chủ”, là tước hiệu của một người Bồ Đào Nha có tên là Joao Fernandes Lavrador , người đã khai phá ra vùng đất này. Người dân ở Newfoundland được gọi là “Newfoundlanders" và ở Labrador được gọi là "Labradorians".


Đầu trangNorthwest Territories

Thủ đô Yellowknife
Thành phố lớn nhất Yellowknife
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Area 1,346,106 km2
Dân số (2007) 42,637 – xếp thứ 11
GDP C$97,923 – xếp thứ 1

 

The Northwest Territories là một vùng lãnh thổ tự trị của Canada. Nằm ở phía Đông của Yukon, phía Tây của Nunavut( hai vùng lãnh thổ tự trị khác của Canada), và ở phía Bắc của British Columbia, Alberta và Saskatchewan, có thủ phủ là Yellowknife thành lập từ năm 1967.

Nét tiêu biểu về địa lý ở đây là chòm Đại hùng tinh và vùng hồ Great Slave, cũng như hồ Mackenzie rộng lớn và hẻm núi hồ Nahanni, một vườn quốc gia đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Vùng lãnh thổ tự trị nằm trong quần đảo Bắc cực bao gồm đảo Băng, quần đảo Parry, đảo Prince Patrick và một phần của đảo Victoria và đảo Melville. Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Nirvana gần biên giới với Ykon với độ cao là 2,773 mét.

        Nơi đây có một nguồn tài nguyên khoáng sản lớn bao gồm kim cương, vàng và khí tự nhiên. Riêng kim cương ở NWT được chào bán theo một quy tắc khác biệt điều đó làm giảm nguy cơ xung đột qua việc mua bán. Tuy nhiên, việc khai thác đã làm nảy sinh các vấn đề về môi trường, không ít những những vùng hoang dã bị hủy hoại do việc đào đãi khoáng sản nơi đây.

Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và dân số thấp đã khiến Northwest Territories trở thành vùng lãnh thổ tự trị có thu nhập bình quân GDP cao nhất so với tất cả các tỉnh bang và vùng lãnh thổ tự trị còn lại trên lãnh thổ Canada. Trên thực tế, với mức GDP là 97,923 đô la Canada, vùng tự trị này có thể được xem là nơi có thu thập cao nhất trên thế giới, đứng thứ hai là Luxembourg( với mức GDP danh nghĩa vào khoảng 83,000 đô la Canada.



Đầu trangYukon

Thủ đô Whitehorse
Thành phố lớn nhất Whitehorse
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Area 482,443 km2
Dân số (2007) 30,989 – xếp thứ 13
GDP C$51,154 – xếp thứ 3

 

Yukon, vẫn thường được gọi là "The Yukon Territory", là một vùng ở cực tây của 3 khu lãnh thổ tự trị phía bắc của Canada. Với tên gọi được lấy từ hồ Yukon, Yukon có nghĩa là “Hổ lớn”. Tên này cũng được dùng để gọi những người đến từ Yukon - Yukoner.

Nằm ở độ cao 5,959m là đỉnh Logan nằm trong vườn quốc gia và bảo tồn Klaune, đây là đỉnh núi cao nhất ở Canada và cũng là đỉnh núi cao thứ hai của Bắc Mỹ ( xếp sau đỉnh McKinley).

Các ngành công nghiệp chính trong lịch sử của Yukon là ngành khai thác mỏ ( chì, kẽm, bạc, vàng, amiang và đồng đỏ). Do lượng người đổ xô đi tìm vàng không ngừng tăng, lên Chính phủ đã thu hồi lại đất từ Tập đoàn vịnh Hudson vào năm 1870 và chia cắt nó khỏi khu tự trị phía tây bắc vào năm 1898 để đáp ứng nhu cầu của chính phủ địa phương.

        Hàng ngàn người đi tìm vàng đã tràn vào khu tự trị, hình thành nên một giai đoạn lịch sử đầy màu sắc được ghi lại nhờ ngòi bút của ác tác giả như Robert W. Service và Jack London. Những ký ức về giai đoạn này và những ngày đầu của đội Cảnh sát cưỡi ngựa hoàng gia Canada, cùng với những kỳ quan và những cơ hội được giải trí ngoài trời, đã biến du lịch trở thành ngành công nghiệp quan trọng thứ hai nơi đây.

        Ngành sản xuất, bao gồm các ngành nội thất, may mặc, ngành thủ công mỹ nghệ, cùng với thủy điện đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế vùng. Các ngành công nghiệp truyền thống như việc đánh bắt cá đã suy giảm.



Đầu trangNunavut

Thủ đô Iqaluit
Thành phố lớn nhất Iqaluit
Ngôn ngữ Inuktitut, Inuinnaqtun, Anh, Pháp
Area 2,093,190 km2
Dân số (2007) 31,113 – xếp thứ 12
GDP C$39,383 – xếp thứ 8

 

Nunavut là vùng lãnh thổ tự trị mới và lớn nhất của Canada, được chính thức tách ra từ khu tự trị phía Tây bắc vào ngày 01 tháng tư năm 1999 thông qua đạo luật Nunavut và Đạo luật Nunavut Land Claims Agreement, mặc dù biên giới thực sự mới đã được thành lập vào năm 1993. Việc có thêm khu tự trị mới đã làm thay đổi bản đồ Canada lần đầu tiên kể từ khi có sự hợp nhất của Newfoundland và Labrador vào năm 1949.

Thủ phủ của khu tự trị là Iqaluit (trước đây có tên là "Vịnh Frobisher") nằm trên đảo Baffin ở phía tây, được chọn qua một cuộc chưng cầu dân ý vào năm 1995.Một số cộng đồng chính khác như các khu trung tâm của Rankin Inlet và vịnh Cambridge. Ở phía bắc Nunavut là đảo Ellesmese, cùng với phần phía nam và bắc của Đảo Victoria ở phía tây. Nunavut là vùng có dân số thấp nhất và cũng là nơi rộng lớn nhất ở Canada. Với dân số chỉ 31,113 người trên một diện tích rộng lớn bằng cả diện tích Tây Âu. Nếu Nunavut là một quốc gia độc lập có chủ quyền thì nơi đây có thể là đất nước có dân số ít nhất trên thế giới: gần bằng Greenland về mặt diện tích nhưng lại có dân số ít hơn hai lần.

Nunavut có nghĩa là vùng đất của chúng tôi’ trong tiếng Inuktitut, ngôn ngữ của người Inuit. Dân cư nơi đây được gọi là Nunavummiut, và một người thì được gọi là Nunavummiuq.

[Trở về] [Đầu trang]

© Copyright 2010 NB Associates (Vietnam) www.nblaws.com
Chú ý quan trọng Cảnh báo gian lận Bản đồ trang web